Bản dịch nháp: Trò chuyện cùng con gái tôi về kinh tế – tác giả: Yanis Varoufakis

Cho những ai theo dõi trang Facebook của tôi thì gần đây tôi đã có một trải nghiệm cũng khá thú vị.

Đã mơ ước dịch cuốn sách dưới đây rất lâu và lần cuối cùng nhìn lại thì nó vẫn chưa được xuất bản ở Việt Nam. Thế nhưng sự thật là sách đã được xuất bản hồi giữa năm 2020 rồi.

Đó là cuốn sách này: Talking to My Daughter about the Economy: A Brief History of Capitalism

Bản dịch: Trò Chuyện Cùng Con Về Nền Kinh Tế

Tác giả: Yanis Varoufakis – Wikipedia

Những ngày tháng 3 năm 2021, tôi bắt đầu dịch nháp quyển sách này để làm mẫu thử cho một nhà xuất bản, nhưng không hiểu sao mà một lúc lên Google tìm kiếm đã thấy bản dịch ở trên lù lù trên Tiki. Chúc mừng dịch giả và nhà xuất bản đã xuất bản được bản dịch này ở Việt Nam ạ.

Và tôi cũng quyết định, thôi thì bản dịch nháp của mình gồm phần mở đầu và 2 chương sẽ được mình đưa lên mạng vì mục đích tham khảo phi lợi nhuận vậy. Nếu có ai đọc bản dịch này mà thấy hấp dẫn thì có thể mua sách gốc hoặc bản dịch chính thức nhé!

Bản dịch dưới đây mất khoảng hơn 1 tuần làm việc, và hầu như chưa được biên tập. Dù sao thì cũng không thấy công sức của mình bỏ phí, vì được dịch quyển sách này là một đặc ân.


Giới thiệu của tôi về tác giả
Có thể nói lí do đầu tiên khiến tôi tìm đọc sách của Yanis Varoufakis vì danh tiếng của chính ông. Varoufakis trở nên nổi tiếng vào năm 2015 khi tôi vẫn đang sống ở châu Âu, vào thời điểm đó hình ảnh một vị Bộ trưởng Tài chính mặc áo da cưỡi mô tô phân khối lớn, lại là giáo sư kinh tế học lâu năm, đã được truyền thông quốc tế đăng tải rất nhiều, một hình ảnh thật lạ và gây tò mò. Mùa xuân năm 2015, khi khủng hoảng nợ công Hy Lạp bước vào giai đoạn “cờ tàn” thì sự tò mò của cá nhân tôi ban đầu chuyển sang thán phục và nể trọng, khi thấy con người này mất ăn mất ngủ, gần như thân cô thế cô mà đương đầu với cả bộ máy quan liêu của châu Âu và xa hơn nữa trong việc đàm phán cơ cấu lại khoản nợ công khổng lồ. Cuối cùng chính thì sự cứng đầu của Varoufakis khiến ông phải từ chức Bộ trưởng còn chính phủ Hy Lạp phải nghe theo yêu sách của các chủ nợ, nhưng cuộc chiến của Varoufakis đã luôn để lại một ấn tượng trong tôi.

Nhờ vào biến cố nói trên mà tôi đã có dịp được biết đến Varoufakis người viết sách, và tôi đã có dịp được đọc một số tác phẩm của Varoufakis như chính cuốn này hay cuốn Adults in the Room vốn ghi lại cuộc đấu trí căng thẳng giữa ông và các chủ nợ. Sự thật là trước khi nổi tiếng thế giới với vai chính trong khủng hoảng nợ Hy Lạp thì tác giả đã khá nổi tiếng trong giới hàn lâm vì ông có biệt tài viết sách bằng tiếng Anh một cách uyên bác mà lại giản dị, dễ hiểu. Điều này hoàn toàn được kiểm chứng trong các sách mà tôi đã đọc do ông viết: Những vấn đề có phức tạp đến đâu thì qua lời văn của Varoufakis đều vô cùng rõ ràng, đúng đến từng chữ và súc tích từng câu. Được đọc và dịch những câu văn rất “Tây” mà vẫn khúc chiết ngắn gọn của Varoufakis thật sự là một vinh dự. Ngoài ra, nếu độc giả có điều kiện có thể xem qua những video phỏng vấn Varoufakis để thấy đây là một con người có trí tuệ và khả năng nói chuyện thu hút như thế nào.

Sách của Varoufakis còn thể hiện những quan điểm nhiều lúc sẽ khác biệt với tư tưởng “dòng chính” trong kinh tế học ngày nay. Những quan điểm này có nhiều điều mới nhưng cũng có nhiều điều mang tính kế thừa những truyền thống của châu Âu, và sự thật là tác giả luôn tự xem mình là một người châu Âu dù ông đã thành danh ở các nước phương Tây.

Tôi tin và hi vọng rằng Yanis Varoufakis sẽ được độc giả Việt Nam đón nhận và biết đến nhiều hơn qua quyển sách này.


Trò chuyện cùng con gái tôi về kinh tế

Yanis Varoufakis

Bản dịch nháp của Hoàng Vinh Thăng

Chỉ mang tính tham khảo phi lợi nhuận

Mở đầu

Cuốn sách này được khởi nguồn từ khi nhà xuất bản tại Hy Lạp của tôi hồi năm 2013 có mời tôi nói chuyện trực tiếp với giới trẻ về đề tài kinh tế. Lý do tôi viết sách này là vì niềm tin rằng kinh tế là quá quan trọng để có thể phó mặc cho các kinh tế gia.
Nếu muốn xây cầu thì tốt hơn là hãy cứ phó mặc cho các chuyên gia, các kỹ sư. Nếu cần phẫu thuật thì tốt hơn là tìm một bác sĩ giải phẫu để thực hiện. Nhưng các đầu sách phổ biến khoa học cho đại chúng thì lại có vai trò quan trọng trong một thế giới nơi mà Tổng thống Mỹ đang gây chiến không che giấu chống khoa học, còn con cháu chúng ta thì cứ lảng tránh các bộ môn này. Xây dựng thái độ trân trọng trong công chúng đối với khoa học cũng là tạo ra một lá chắn bảo vệ cộng đồng khoa học, mà cộng đồng này sẽ phải sản sinh ra các chuyên gia mà xã hội cần đến. Theo nghĩa này, quyển sách nhỏ này có sự khác biệt đáng kể đối với những cuốn sách kể trên.

Là một người dạy học ngành kinh tế, tôi đã luôn tin rằng nếu anh không có khả năng giải thích về kinh tế trong một thứ ngôn ngữ mà người trẻ có thể lĩnh hội được thì đơn giản là chính anh hóa ra cũng chẳng biết gì. Theo thời gian, tôi lại nhận ra một điều nữa, một thứ nghịch lý thật hay ho trong nghề của tôi mà chính nó đã làm niềm tin kể trên của tôi thêm mạnh: các mô hình về nền kinh tế của chúng ta càng mang tính khoa học bao nhiêu thì chúng lại ít có liên quan đến nền kinh tế thực ngoài kia bấy nhiêu. Chi tiết này là trái ngược hoàn toàn với các thành quả trong ngành vật lý, kỹ thuật và các ngành khoa học tự nhiên còn lại, mà theo đó thì mức độ phức tạp về khoa học càng cao thì chúng ta lại càng hiểu rõ thêm về cách vận động thực sự của tự nhiên.

Đây là lí do vì sao quyển sách này là nỗ lực của tôi để làm điều trái nghịch lại với việc đưa kinh tế học đến với đại chúng. Nếu cuốn sách này là thành công thì nó đã khuyến khích cho độc giả tự nắm lấy môn kinh tế trong tay của mình và làm cho độc giả nhận ra rằng: để hiểu kinh tế thì cũng phải hiểu rằng các chuyên gia tự chỉ định trong ngành này – tức các kinh tế gia – gần như bao giờ cũng sai. Việc bảo đảm rằng ai cũng có thể nói chuyện về kinh tế một cách có căn cứ tường tận là một điều kiện cần cho một xã hội lành mạnh cũng như một nền dân trị thực thụ. Những thăng trầm của nền kinh tế định hình cuộc sống của tất cả mọi người, những động lực của kinh tế có thể biến nền dân trị của chúng ta thành trò cười, các xúc tu của kinh tế vươn sâu vào trong tâm hồn mỗi người mà nơi đó chúng lại nhào nặn nên những hi vọng và ước ao của chúng ta. Nếu chúng ta phó mặc kinh tế học cho các chuyên gia phụ trách thì cũng chả khác gì dâng luôn cho bọn họ tất cả những quyết định có ý nghĩa.

Có một lí do khác khiến tôi đồng ý viết cuốn sách này. Con gái tôi là cháu Xenia gần như luôn vắng bóng trong cuộc đời của tôi, cháu sống ở Úc còn tôi ở Hy Lạp nên chúng tôi thường phải xa cách hoặc khi gặp được nhau thì cũng đếm từng ngày cho đến khi lại xa cách lần nữa. Việc trò chuyện trong tưởng tượng với cháu về những điều mà thời gian eo hẹp chưa bao giờ cho phép chúng tôi trò chuyện trong thực tế khiến tôi cảm thấy sảng khoái.

Viết sách này là cả một niềm hạnh phúc. Đây là văn bản duy nhất mà tôi từng viết ra mà không có chú thích, dẫn nguồn hay những thứ linh tinh khác của sách hàn lâm hay chính trị. Không giống như các đầu sách “nghiêm túc” kia, tôi viết cuốn này bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Thật vậy, tôi chỉ việc ngồi xuống ở ngôi nhà của chúng tôi trên đảo Aegina mà từ đó có thể nhìn ra Vịnh Saronic và xa xa là những ngọn núi vùng Peloponese, và cứ thể để cuốn sách tự nó viết ra – mà không có dàn bài, mục lục tạm thời hay hình mẫu nào để định hướng mình cả. Cả thảy mất chín ngày, khoảng thời gian được điểm xuyết bởi những chuyến đi bơi, đi thuyền hay du ngoạn buổi tối với Danae – người bạn đời đầy bao dung và lúc nào cũng hỗ trợ tôi hết lòng.

Một năm sau khi cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Hy Lạp, cuộc đời đã thay đổi. Nền kinh tế của Hy Lạp và Châu Âu sụp đổ đã đẩy tôi chui qua cái hang thỏ là một chức bộ trưởng đứng giữa cuộc đụng độ kinh thiên động địa giữa một bên là nhân dân đã bầu cho tôi và một bên là giới cá mập toàn cầu (global oligarchy). Cũng trong thời gian đó, nhờ vào vị trí mới của tôi mà cuốn sách nhỏ này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và mấy lời chiêm nghiệm này đã thu hút một lượng lớn độc giả tại Pháp, Đức, Tây Ban Nha và nhiều nơi nữa. Chỉ có một ngôn ngữ lớn mà cuốn sách này chưa được dịch ra là tiếng Anh.

Giờ đây, nhờ sự giúp sức của Jacob Moe, người đã dịch cuốn sách ra từ nguyên bản Hy Lap, và kèm theo đó là tập thể nhà xuất bản Penguin Random House mà hơn hết là Will Hammond, mà cuốn sách được xuất hiện trong thứ ngôn ngữ mà tôi thường viết. Cuốn này lại theo sau gót một cuốn khác là Adults in the Room vốn vô cùng đau đớn mới viết được do nó ghi lại những biến cố đau thương hồi năm 2015, do đó mà việc chỉnh sửa cuốn này ra thành phiên bản tiếng Anh cũng đã có giá trị như một liệu pháp tâm lý: đó là một sự giải thoát khỏi những khó khăn và phiền muộn của kẻ bị mắc kẹt trong xoáy nước của một nền kinh tế sụp đổ cứ chìm dần. Việc này cũng đã cho tôi được quay về với bản thân của ngày xưa đã lâu không gặp mà khi trước vẫn thường viết lách trong lặng im và yên bình và không bị báo chí thi nhau đánh cấp tập, một tôi ngày xưa chỉ có làm những việc mình luôn yêu thích: tìm cách bất đồng ý kiến với chính mình nhằm mục đích tìm ra xem mình đang thực sự nghĩ điều gì.

Vấn đề với những gì ta đang nói với nhau mỗi ngày về thực trạng hiện tại là chúng ta lại lạc vào những màn tranh luận mà không màng đến “con voi ở trong phòng”: đó là kinh tế tư bản. Trong một tuần hồi tháng 7 năm 2017 lúc tôi đang ngồi làm việc trên bản tiếng Anh này, lần này lại là ở Aegina và cũng nhìn ra biển đó và núi đó, tôi vui thích vì không phải viết về Brexit, Grexit, Trump, Hy Lạp hay khủng hoảng kinh tế châu Âu, mà thay vào đó tôi được nói chuyện trong trí tưởng tượng với con gái tôi về nền kinh tế tư bản. Bởi lẽ, cuối cùng ta sẽ không hiểu được gì nếu không hòa giải được với con thú này vốn đang chi phối lấy cuộc đời của ta.
Nếu căn cứ vào những gì tôi vừa viết ở trên thì độc giả có thể sẽ ngạc nhiên khi cuốn sách này không nhắc đến “tư bản” hay “chủ nghĩa tư bản” một lần nào. Tôi chọn bỏ ra ngoài những từ ngữ như vậy không phải vì chúng có gì đó sai cả, mà là vì các từ ngữ này đều có mang theo những câu chuyện riêng nên chúng lại cản trở việc soi sáng bản chất của sự vật. Như vây, thay vì nói về “kinh tế tư bản” thì tôi sẽ dùng thuật ngữ “xã hội thị trường”. Thay vì “tư bản” thì bạn sẽ thấy những từ ngữ bình dị hơn như “máy móc” hay “tư liệu sản xuất được sản xuất”. Sao lại phải sử dụng biệt ngữ nếu chúng ta có thể tránh được?

Còn đề cập đến các ảnh hưởng cũng như nguồn dẫn của tôi, tôi cần phải thú nhận một điều: cuốn sách này do được viết theo kiểu nghĩ đâu viết đó trong vòng có chín ngày nên nó đầy rẫy những ý tưởng, câu nói, lý thuyết hay câu chuyện mà tôi một cách ý thức hay vô thức đã thu thập, vay mượn và chôm chỉa được từ hồi đầu những năm 1980, nhằm mục đích giúp tôi tìm ra các chiêu mánh trong dạy học sao cho sinh viên hay cử tọa phải giật mình tỉnh ngủ. Không thể có một danh sách đầy đủ, nhưng sau đây là một số nguồn mà tôi có thể nghĩ ra được.

Ngoài các áng văn thơ được nhắc đến trong văn bản này cũng như các bộ phim khoa học giả tưởng mà nếu không có chúng thì tôi đã gặp nhiều khó khăn trong việc thấu hiểu hiện tại, tôi sẽ nhắc đến bốn quyển sách: Súng, Vi trùng và Thép của Jared Diamond, vốn là trụ cột cho câu chuyện của chương đầu tiên về sự ra đời của bất bình đẳng lớn lao và sau này là của những hình ảnh mang tính kì thị chủng tộc. Cuốn The Gift Relationship của Richard Titmuss, mà trong đó những phân tích về thị trường máu đã nhấn mạnh thêm các tư tưởng được Karl Polanyi khai triển ra trong cuốn Great Transformation. Cuốn The Wordly Philosophers đường bệ của Robert Heilbroner. Và cuốn Payback được viết bởi văn hào Magaret Atwood mà tôi hết lòng khuyên đọc vì nó là cuốn sách hay nhất và thú vị nhất từng được viết về chủ đề nợ.

Cuối cùng, sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến bóng ma của Karl Marx, nghệ thuật sân khấu của các nhà viết kịch Athens cổ đại, những phân tích sắc sảo của John Maynard Keynes về cái gọi là “sai lầm trong suy rộng” (fallacy of composition), và cuối cùng là những phân tích châm biếm và tầm nhìn sâu rộng của Bertolt Brecht. Những câu chuyện, học thuyết hay điều ám ảnh của bọn họ cũng bám lấy mọi suy nghĩ của tôi từ trước đến nay, bao gồm luôn cả những suy nghĩ được bàn đến trong quyển sách này.

Chương 1: Tại sao lại có nhiều bất bình đẳng đến thế?

Mọi đứa bé đều sinh ra trong trần truồng, nhưng chỉ một lát sau là một số bé đã được mặc lên những thứ quần áo đắt tiền mua ở những cửa hiệu sang nhất, còn đa số các bé lại chỉ được khoác giẻ lên người. Lớn lên một chút, một số trẻ em lại thấy khó chịu khi được người thân và cha mẹ đỡ đầu tiếp tục mang cho thêm quần áo, bởi lẽ các trẻ này lại muốn được nhận các món quà khác cơ – chẳng hạn như chiếc iPhone đời mới nhất – còn những đứa trẻ khác lại mơ đến ngày được bước đi đến trường mà không có lỗ thủng nào trên giày.

Đây chính là kiểu bất bình đẳng đang làm nên thế giới của chúng ta. Từ khi còn nhỏ thì con có vẻ như đã nhận biết được điều này cho dù thế giới đó không nằm trong cuộc sống thường ngày của con, bởi lẽ thực sự là ngôi trường mà bố mẹ gửi con theo học không có những em nhỏ đang phải chịu cảnh sống một cuộc đời thiếu thốn hay đầy bạo lực – mà phần lớn trẻ em trên thế giới đều phải trải qua. Gần đây hơn thì con có hỏi bố: “Tại sao lại có nhiều bất bình đẳng thế hả bố? Chẳng lẽ nhân loại lại ngu ngốc đến vậy hay sao?”. Câu trả lời của bố đã không làm con thỏa mãn, và cả chính bố cũng không thấy thỏa mãn nữa cơ. Vậy thì con hãy vui lòng để bố thử lại một lần nữa nhé, bằng việc lần này đặt một câu hỏi hơi khác đi một chút.

Tại sao Thổ dân Úc không xâm lược nước Anh?

Con sinh ra và lớn lên ở Sydney nên hẳn là các thầy cô giáo ở trường đã dành nhiều giờ dạy và tiết học để truyền đạt cho con và các bạn về những bất công tệ hại mà nước Úc “trắng” đã gây ra đối với những cư dân ban đầu của nơi này, tức những người Thổ dân (Aborigines); về nền văn hóa tuyệt vời của họ vốn đã bị thực dân Châu Âu giẫm đạp lên trong hơn hai thế kỷ; và về cảnh nghèo mạt khó tin của họ ngày hôm nay sau hàng thế kỷ chịu cảnh bạo lực, trộm cắp và làm nhục. Nhưng đã bao giờ con tự hỏi tại sao người Anh mới là kẻ xâm lược Úc châu và cứ mặc sức chiếm đất của người Thổ dân cũng như đẩy họ đến gần với tuyệt diệt, chứ không phải là ngược lại? Tại sao người Thổ dân đã không đổ bộ ở Dover, đoạn tiến như vũ bão đến London và ra tay sát hại mọi người Anh nào dám đứng lên chống lại, bao gồm cả nữ hoàng? Bố dám cá là không một thầy cô nào ở trường của con đã dám đặt ra câu hỏi này.

Nhưng câu hỏi này là quan trọng, và nếu chúng ta không trả lời nó một cách cần trọng thì chúng ta có nguy cơ sẽ cứ vô tư mà chấp nhận rằng, hoặc người châu Âu vốn đã thông minh và có năng lực hơn – đây chắc chắn là quan điểm của giới thực dân thời đó – hoặc người Thổ dân Úc có lòng tốt và nhân hậu hơn nên đã không trở thành những kẻ thực dân tàn bạo. Ngay cả điều này có là đúng đi chăng nữa thì lập luận thứ hai cũng có cốt lõi giống y như lập luận đầu tiên: rằng có một yếu tố nội tại gì đó khác biệt giữa người châu Âu và Thổ dân Úc mà không cần giải thích thế nào hay tại sao, và không có gì gột rửa những tội ác chống lại người Thổ dân và những dân tộc khác nữa như là những lý lẽ kiểu như thế này.

Các lý lẽ này phải được dập tắt bởi lẽ chúng có thể trồi lên trong chính tư tưởng của con, chúng xúi giục con chấp nhận rằng những nạn nhân của lịch sử xứng đáng nhận những gì đã xảy đến với bọn họ đơn thuần là vì các nạn nhân này không đủ tinh khôn.
Như vậy thì câu hỏi ban đầu “Tại sao lại có nhiều bất bình đẳng như vậy giữa các dân tộc với nhau?” lại đang hòa vào trong một câu hỏi khác đen tối hơn: “Có phải đơn giản là vì một số nhóm người là thông minh hơn và theo đó là có năng lực hơn những nhóm khác?”. Nếu câu trả lời là không thì tại sao con lại chưa từng gặp trên đường phố Sydney những cảnh nghèo khổ con đã thấy khi đi du lịch Thái Lan?

Thị trường là một chuyện, nền kinh tế lại là chuyện khác

Bên trong bong bóng của sự phồn vinh Tây phương nơi con đang lớn lên, phần đông những người lớn sẽ bảo với con rằng các nước nghèo đang nghèo vì “nền kinh tế” của các nước này là yếu ớt – không cần biết những lời này có nghĩa là gì. Họ cũng sẽ bảo với con rằng người nghèo trong chính cộng đồng của con đang nghèo vì họ không có gì bán được mà người khác thực sự muốn – rằng tóm lại là họ không có gì để đưa ra “thị trường”.

Đây là lí do mà bố muốn nói chuyện với con về thứ mà người ta gọi là nền kinh tế: trong thế giới của con, và cũng là của bố, bất cứ cuộc đối thoại nào về việc tại sao người thì nghèo hèn còn kẻ thì giàu sụ, và thậm chí là tại sao con người lại đang tàn phá Trái Đất, tất cả đều xoay quanh cái thứ gọi là nền kinh tế kia. Và nền kinh tế thì lại có họ hàng với một thứ khác được biết dưới tên gọi là thị trường. Nếu muốn có bất cứ tiếng nói nào lên tương lai của nhân loại, con không thể chỉ biết đảo mắt rồi nhấn nút tắt mỗi khi những chữ như “kinh tế” hay “thị trường” được nhắc đến.

Vậy thì, hãy để bố được bắt đầu bằng một sai lầm mà nhiều người mắc phải: người ta nghĩ rằng thị trường và nền kinh tế là một thứ duy nhất. Nhưng không phải là như vậy. Thị trường cụ thể là cái gì? Thị trường là nơi để đổi chác. Tại siêu thị, chúng ta cứ thế lấp đầy chiếc xe đẩy với các vật phẩm và đổi lại đó là tiền, còn người bán – tức chủ siêu thị hay người nhân viên được trả công từ chính những đồng tiền nằm trong quầy thu ngân kia – sau này sẽ phải dùng tiền đó để đổi lấy những thứ mà họ muốn. Trước khi phát minh ra tiền tệ thì việc đổi chác là trực tiếp: một quả chuối đổi thẳng sang được một quả táo hay có thể là hai quả táo. Ngày nay, với Internet phát triển như vũ bão thì thị trường thậm chí còn không cần là một địa điểm trong thế giới thực, như những lần con bắt bố mua ứng dụng di động cho con trên iTunes hay mua đĩa hát từ Amazon.

Hiển nhiên là chúng ta đã có thị trường từ khi còn đang sống trên cây, trước cả khi chúng ta học được cách trồng lấy lương thực. Lần đầu tiên mà một trong số các tổ tiên của chúng ta tỏ ý muốn đổi một quả chuối lấy một thứ hoa quả khác thì đã nghe hơi một thị trường ở đâu đây. Nhưng đây lại không phải là nền kinh tế thực sự. Để một nền kinh tế được thành hình thì còn cần một thứ nguyên liệu nữa: đó là khả năng đi xa hơn so với việc cứ hái chuối trên cây hoặc săn bắt thú vật – khả năng sản xuất ra lương thực hoặc công cụ mà chúng sẽ không tồn tại nếu không có sức lao động của con người.

Hai bước nhảy vọt lớn: tiếng nói và thặng dư

Khoảng tám mươi hai nghìn năm về trước, loài người đã có Bước Nhảy vọt Vĩ đại Đầu tiên: sử dụng thanh quản của mình để cất tiếng nói và qua đó có bước tiến bộ so với những tiếng kêu không đầu không cuối. Bảy mươi nghìn năm sau đó (tức là cách đây mười hai nghìn năm) chúng ta có Bước Nhảy vọt Vĩ đại Thứ hai: loài người thành công trong việc trồng trọt trên đất. Khả năng sử dụng tiếng nói cũng như sản xuất lương thực – thay vì chỉ có kêu hét và tiêu thụ những gì do môi trường tự nhiên ban tặng (thú hoang, hạt, quả, cá) – đã đỡ đầu cho sự ra đời của sự vật mà chúng ta gọi là nền kinh tế.

Ngày nay, mười hai nghìn năm sau khi con người “phát minh” ra nông nghiệp, chúng ta có đầy đủ mọi lí do để nhìn nhận thời khắc đó đích xác mang tính lịch sử. Lần đầu tiên loài người đã biết không dựa dẫm vào những gì thiên nhiên hào phóng ban cho mà thay vào đó phải còng lưng ra mà học cách bắt thiên nhiên sản xuất ra những sản phẩm mà con người cần. Nhưng đây có phải là một giờ phút của niềm vui và tán dương? Hoàn toàn không phải! Lí do duy nhất loài người học cách trồng trọt là vì họ đang dần chết đói mà thôi. Một khi con người đã giết thịt phần lớn các loài thú săn với những phương thức săn bắn tinh vi, và khi dân số đã nhân lên nhanh đến mức những gì có sẵn trên cây không còn đủ nữa, nhu cầu tối cần thiết đã bắt nhân loại đã phải học cách làm nông.

Như mọi cuộc cách mạng công nghệ khác, đây không phải là một thứ cách mạng mà loài người đã châm ngòi một cách có chủ đích. Ở những nơi mà người ta có thể tránh được làm nông, chẳng hạn như ở Úc nơi mà thiên nhiên đã cung cấp đủ lượng lương thực cần thiết, thì người ta đều tránh cả. Nông nghiệp đã bám rễ vào những nơi mà con người sẽ có thể chết nếu không làm nông. Theo thời gian, thông qua thực nghiệm và quan sát, các phương thức công nghệ giúp chúng ta đạt hiệu suất nông nghiệp cao hơn đã dần biến chuyển. Nhưng trong khi quá trình này đang diễn ra, khi chúng ta đang phát triển những phương tiện để sản xuất lương thực, thì xã hội loài người đã có sự biến chuyển lớn lao. Lần đầu tiên, sản xuất nông nghiệp đã tạo ra nhân tố cơ bản cho một nền kinh tế thực thụ: đó là thặng dư.

Thặng dư là gì? Ban đầu, thặng dư chỉ đơn thuần có ý nghĩa là phần còn lại từ những sản phẩm từ đất đai, sau khi chúng ta tự nuôi sống mình và thay thế lượng hạt giống được dùng để sản xuất nên các sản phẩm đó lúc trước. Nói cách khác, thặng dư là phần thừa có thể được tích lũy để sử dụng trong tương lai – chẳng hạn như lúa mì để dành ra “cho một ngày mưa” (nếu mùa thu hoạch tới bị mưa đá tàn phá) hoặc được sử dụng để làm lúa giống gieo trồng thêm vào năm sau, qua đó làm tăng sản lượng và thặng dư vào những năm tiếp theo.

Ở đây con nên chú ý đến hai điều. Thứ nhất, việc săn bắn, câu cá và hái lượm rau quả mọc tự nhiên không bao giờ có thể sinh ra thặng dư ngay cả khi những người thợ săn, ngư phủ và hái lượm làm việc với năng suất siêu việt. Không giống như các loại hạt dạng thóc – như ngô, gạo và lúa mạch – vốn có thể được bảo quản khá tốt thì cá, thỏ và chuối sẽ nhanh chóng thối rữa hoặc hỏng. Thứ hai, thặng dư nông nghiệp ra đời cũng kéo theo sự ra đời của những kỳ quan khác vốn đã đổi thay nhân loại mãi mãi: chữ viết, nợ vay, tiền tệ, nhà nước, bộ máy hành chính quan liêu, quân đội, giới tăng lữ , công nghệ và thậm chí là dạng thức đầu tiên của chiến tranh sinh hóa. Hãy nói về từng thứ một nào …

Chữ viết

Từ giới khảo cổ học, chúng ta được biết rằng những hình thức chữ viết đầu tiên đã được sinh ra ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) nơi thuộc lãnh thổ Iraq và Syria ngày nay. Nhưng chúng ghi chép lại những gì? Đó là số lượng thóc mà mỗi nông dân đã gửi vào trong một kho thóc chung. Âu cũng hợp lý: thật khó để mỗi nông dân tự xây một kho thóc để chứa thặng dư của mình, và đơn giản hơn nếu có một kho chung với lính gác và nông dân nào cũng có thể sử dụng. Nhưng một hệ thống kiểu này thì sẽ cần phải có một dạng biên nhận, chẳng hạn như chứng nhận rằng ông Nabuk đã bỏ một trăm cân thóc vào kho. Thật vậy, chữ viết được tạo ra lần đầu là để quản lý những sổ sách kế toán này – sao cho mỗi cá nhân đều có thể chứng minh được mình đã bỏ vào kho thóc chung một khối lượng là bao nhiêu. Không phải là ngẫu nhiên mà các xã hội nơi không cần thiết phải phát triển nông nghiệp – nơi mà thú hoang, các loại hạt (nuts) và hoa quả không bao giờ thiếu thốn, chẳng hạn như đối với các xã hội Thổ dân Úc và thổ dân Nam Mỹ – người ta chỉ tập trung vào âm nhạc và hội họa mà chưa từng phát minh ra chữ viết.

Nợ, tiền tệ và nhà nước

Những sổ sách kế toán ghi chép lại xem ông bạn Nabuk của chúng ta sở hữu bao nhiêu lúa mì chính là sự khởi nguồn của cả nợ lẫn tiền tệ. Căn cứ vào các phát hiện khảo cổ, chúng ta biết rằng nhiều người lao động đã được trả công bằng vỏ sò trên đó có khắc những con số ghị lại xem những kẻ cai trị phải trả những người này bao nhiêu thóc cho sức lao động của bọn họ ngoài đồng ruộng. Song song với đó, vỏ sò cũng là một dạng tiền tệ vì người lao động có thể đổi chúng để có được những thứ do người khác làm ra.

Nhưng phát hiện thú vị nhất lại liên quan đến sự xuất hiện lần đầu của tiền kim loại. Phần lớn mọi người đều tin rằng tiền kim loại được phát minh ra để sử dụng khi giao dịch, nhưng điều này lại không đúng. Ít ra là ở khu vực Lưỡng Hà thì người ta đã sử dụng một thứ tiền kim loại không tồn tại trong thực tế, loại tiền tệ này được sử dụng trong sổ sách ghi chép để biểu thị số nợ phải trả cho mỗi người lao động nông nghiệp. Chẳng hạn như, sổ kế toán sẽ chép lại rằng: “Ông Nabuk đã nhận số thóc trị giá ba đồng tiền kim loại” mặc dù những đồng tiền này vẫn chưa được đúc ra và có thể sẽ vẫn không được đúc ra trong vòng nhiều, nhiều năm nữa. Theo một nghĩa nào đó, thứ tiền tệ tưởng tượng này, vốn được sử dụng để giao dịch thuận tiện hơn, chính là một loại tiền ảo. Vì thế mà khi người ta bảo với con rằng nền kinh tế ngày nay rất khác với nền kinh tế của ngày xưa và viện dẫn ra việc thanh toán điện tử sử dụng công nghệ số, hãy nói với họ rằng điều này chẳng có gì mới; rằng tiền ảo đã tồn tại ngay từ khi nền kinh tế được manh nha, theo sau cuộc cách mạng nông nghiệp mười hai nghìn năm trước cũng như sự ra đời của thặng dư đầu tiên.

Thật ra, ngay cả khi đồng tiền kim loại được rèn ra thì thông thường nó cũng quá nặng để có thể lưu thông được. Thế là, giá trị của lượng thóc phải trả cho ông Nabuk được diễn đạt dưới dạng một tỉ lệ của một miếng sắt lớn. Trong mọi tình huống thì ông Nabuk cũng không bao giờ đi loanh quanh với tiền kim loại để ở trong túi – ông chỉ mang trên người một phương tiện ghi nợ (IOU) mà thông thường sẽ là một cái vỏ sò trên đó có chữ viết biểu hiện khối lượng thóc, hoặc biểu hiện số phần trong một khối sắt lớn không thể di chuyển.

Và vấn đề cốt lõi của loại tiền ảo và phương tiện ghi nợ này đó là: để cả hệ thống hoạt động được thì chúng cần một lượng lớn … đức tin. Ông Nabuk phải tin – ông ta phải có một đức tin – rằng người quản trị kho thóc sẽ phải có ý muốn và khả năng để đưa cho ông Nabuk số lượng thóc phải trả cho ông khi số thóc này đã được sản xuất ra. Và cả những người khác cũng đã buộc phải tin vào chính điều này trước khi họ có thể chịu nhận vỏ sò-ghi nợ của ông Nabuk để thanh toán cho dầu hay muối, hay để giúp ông xây lấy túp lều của mình. Đây là gốc gác của chữ “credit” (tín dụng, tín nhiệm), nó bắt nguồn từ tiếng Latin là “credere”, nghĩa là “tin”.

Để cho một đức tin như vậy có thể tồn tại được và qua đó đem lại giá trị cho mớ vỏ sò (tức tiền tệ), người ta cần phải biết được rằng những vỏ sò này được đảm bảo bởi ai đó hoặc điều gì đó có sức mạnh to lớn. Đây có thể là một người cai trị là hậu duệ của thần linh, một vị đại đế mang trong mình dòng dõi hoàng gia, hay sau này là một thứ tựa như nhà nước hay chính phủ: một quyền uy mà người ta có thể tín nhiệm rằng nó sẽ trả lại cho ông Nabuk số phần của ông trong thặng dư thóc, ngay cả khi cá nhân kẻ cai trị có thể băng hà.

Bộ máy hành chính, quân đội, tăng lữ

Nợ, tiền tệ và đức tin có mối liên hệ mật thiết với nhau. Không có nợ vay thì sẽ chẳng có cách nào dễ dàng để quản lý số thặng dư sinh ra từ nông nghiệp. Khi nợ bắt đầu xuất hiện thì tiền tệ cũng theo đó mà sinh sôi nảy nở. Nhưng để tiền tệ có giá trị thì một thể chế, tức nhà nước, phải làm cho nó trở nên đáng tin. Khi chúng ta nói về nền kinh tế thì thực chất chúng ta đang nói về chính điều này: những mối quan hệ phức tạp nảy sinh ra từ một xã hội có thặng dư.

Và rồi khi chúng ta xem xét những mối quan hệ này, có một điều khác cũng trở nên rõ ràng theo: đó là nếu không có thặng dư thì cũng sẽ không có nhà nước, bởi lẽ một nhà nước cần đến lớp cán bộ hành chính để coi sóc những việc công, một lực lượng cảnh sát để bảo vệ quyền tài sản, đồng thời còn có những người cai trị mà vốn bất chấp hậu quả ra sao thì đều đòi hỏi phải có một mức sống cao. Sẽ không có gì trong những điều kể trên là khả thi nếu không tồn tại một lượng thặng dư lớn đủ để nuôi dưỡng những con người này trong khi họ không phải ra đồng làm việc. Và nếu không có thặng dư thì cũng chẳng có một quân đội có tổ chức nào cả – và nếu không có quân đội có tổ chức thì quyền lực của kẻ cai trị, mà rộng ra là của nhà nước, sẽ không thể được đảm bảo, và theo đó thặng dư của xã hội cũng sẽ dễ bị các mối đe dọa bên ngoài lăm le nhòm ngó.

Nền hành chính quan liêu và quân đội được thặng dư nông nghiệp biến thành có thể, và đến lượt mình thì thặng dư lại tạo ra nhu cầu phải có chính bộ máy hành chính và quân đội. Điều này cũng là đúng với tầng lớp tăng lữ (clergy). Tăng lữ? Đúng vậy, có thặng dư mới sinh ra tín ngưỡng có tổ chức! Hãy cùng xem xét tại sao nhé.

Trong lịch sử, tất cả các nhà nước được sinh ra từ xã hội nông nghiệp đều phân chia thặng dư của mình theo một kiểu bất công hết sức, với người hưởng lợi là những kẻ có quyền hành về xã hội, chính trị hay quân sự. Nhưng những kẻ cai trị này có mạnh đến đâu thì cũng không đủ để đối mặt với tuyệt đại đa số nông dân nghèo, vốn nếu hợp sức thì có thể lật đổ chế độ bóc lột trong một khoảng thời gian tính bằng giờ. Vậy thì làm cách nào để kẻ cai trị có thể duy trì quyền lực của mình, qua đó mà có toàn quyền phân chia thặng dư mà không bị đa số quáy rầy?

Câu trả lời là: bằng cách vun đắp một ý thức hệ khiến cho đa số người ta tin từ tận đáy lòng rằng chỉ có chính những kẻ đang cai trị bọn họ mới có quyền cai trị. Rằng người ta đang sống trong một thế giới tốt đẹp nhất so với mọi thế giới. Rằng mọi chuyện đang đúng như nó được định đoạt phải thế. Rằng cảnh trần gian là phản ảnh một trật tự nào đó của thần linh. Rằng bất cứ sự chống đỡ nào cũng sẽ đụng phải ý chí của đấng siêu nhiên này, và qua đó có khả năng đẩy thế giới vào một vòng xoáy mất kiểm soát.

Không có thứ ý thức hệ này đển gán cho nó tính chính danh thì quyền lực của nhà nước sẽ không có cơ hội để đứng vững. Cũng giống như nhà nước phải tồn tại mãi mãi và vượt qua được cái chết của người cai trị thì cái nạng là ý thức hệ cũng cần phải được biến thành thể chế. Những người thực hiện và ban hành các nghi thức nhằm phục vụ cho mục đích này là tầng lớp tăng lữ. Nếu không có thặng dư đủ lớn thì cũng sẽ không tồn tại khả năng tạo ra các thiết chế tôn giáo mà trong đó có tầng lớp tăng lữ với những hệ thống thứ bậc rối rắm, bởi lẽ những người đàn ông đàn bà “linh thiêng” này không sản xuất ra gì cả. Song song với đó, nếu không có tín ngưỡng được tổ chức thì quyền hành của tầng lớp cai trị lên việc sản xuất và phân phối thặng dư cũng theo đó mà trở thành vô cùng bất ổn và lại còn dễ bị tổn thương trước nguy cơ số đông dân chúng nổi dậy, mà số đông này thì thường chỉ có được một phần cỏn con trong tổng thặng dư. Đây là lí do vì sao trong hàng nghìn năm nhà nước và thần quyền là một thực thể duy nhất.

Công nghệ và chiến tranh sinh hóa

Bộ não con người đã sản sinh ra cách mạng công nghệ trước khi sản xuất nông nghiệp ra đời rất lâu – ví dụ như việc phát minh ra lửa, thu lấy kim loại từ quặng, hay cánh máy bay dạng khí động học (aerofoil) như trong chiếc boomerang phi thường của Thổ dân Úc. Nhưng thặng dư nông nghiệp đã ban tặng cho công nghệ một động lực khổng lồ bằng cách cùng một lúc đặt ra những yêu cầu mới về công nghệ – cái cày và hệ thống tưới tiêu – cũng như làm tập trung nguồn lực vào tay một số ít đầy quyền lực. Cuộc cách mạng nông nghiệp đã làm bệ phóng cho công nghệ của nhân loại lên đến mức làm được Kim tự tháp kỳ vĩ, điện Parthenon và những ngôi đền Inca – dĩ nhiên là với sự giúp sức của hàng nghìn nô lệ.

Nhưng thặng dư cũng tạo ra những vi khuẩn và virus chết người. Khi mà hàng tấn lúa mì được lưu trữ trong các kho thóc chung mà xung quanh nêm chặt cả người lẫn thú vật, trong những đô thị không có khả năng xử lý rác dù là thô sơ nhất, thì kết quả là một phòng thí nghiệm sinh hóa đồ sộ mà trong đó các loại vi khuẩn và virus nhanh chóng sinh sôi và lây từ loài này sang loài khác. Cơ thể con người đã không tiến hóa để thích nghi với bệnh tật tàn phá, và ban đầu thì đã có rất nhiều người chết. Nhưng dần dần qua nhiều thế hệ thì những cư dân của các xã hội này từ từ thích nghi với bệnh thổ tả, sốt phát ban và bênh cúm, và sức đề kháng của họ với các bệnh này cũng tăng dần.

Lẽ dĩ nhiên, khi bọn họ gặp phải những bộ lạc và cộng đồng vốn vẫn chưa khai phá được sản xuất nông nghiệp, do những người này đang mang trên mình hàng triệu thứ vi sinh vật chết người nên chỉ cần một cái bắt tay cũng đủ để giết gần hết những người dân bộ lạc. Thực tế là, cả ở Úc lẫn ở Mỹ, số lượng thổ dân thiệt mạng vì tiếp xúc vi khuẩn và virus do người châu Âu xâm lược đem đến là cao hơn nhiều so với số người thiệt mạng do đạn đại bác, đạn súng tay và dao kiếm. Trong một số trường hợp, những kẻ cướp từ châu Âu thậm chí còn tiến hành chiến tranh sinh hóa một cách có chủ đích: có một lần một bộ lạc Thổ dân Mỹ đã bị tiêu diệt sau khi một phái đoàn thực dân châu Âu tặng cho bọn họ những tấm chăn được cố ý cho mang virus bệnh đậu mùa.

Quay lại với câu hỏi đầu tiên: Tại sao người Anh lại xâm lược Úc mà không phải là ngược lại?

Đã đến lúc để quay về với câu hỏi khó đầu tiên mà bố đã đặt ra. Tại sao người Anh lại xâm lược Úc trong khi Thổ dân Úc không xâm lược Anh? Một cách tổng quát hơn, tại sao các siêu cường đế quốc đều nổi lên ở đại lục Á-Âu trong khi không có ai bắt nguồn từ Úc hay châu Phi? Có phải do ADN? Chắc chắn là không. Câu trả lời nằm trong những gì bố đang vừa kể cho con ở trên đây.

Chúng ta thấy rằng ban đầu … có thặng dư. Và rồi từ thặng dư nông nghiệp sinh ra chữ viết, nợ tiền tệ và nhà nước – và rồi từ các nền kinh tế này sản sinh ra công nghệ và quân đội. Nói một cách đơn giản, những điều kiện địa lý của đại lục Á-Âu – bản chất đất đai địa hình và khí hậu – làm cho nông nghiệp, thặng dư và tất cả những thứ theo sau đều bám rễ vững vàng, rồi từ đó nổi lên những người cai trị đứng đầu một bộ máy nhà nước, chỉ huy quân đội và sở hữu công nghệ như súng ống, và mức độ sát thương lại càng tăng nhờ vào những thứ vũ khí sinh hóa mà họ mang trên người hay trong hơi thở.

Tuy nhiên tại những xứ sở như Úc thì mọi chuyện lại khác. Đầu tiên là lương thực không bao giờ thiếu, bởi lẽ có ba hay bốn triệu con người sống chan hòa với thiên nhiên và tùy nghi sử dụng cả thực vật lẫn động vật của một lục địa to lớn như châu Âu. Vì vậy mà chẳng có lí do gì để phát minh ra công nghệ nông nghiệp nhằm tích lũy thặng dư, hay để tiếp thu những công nghệ này khi nó tự đến.

Ngày nay chúng ta biết – chắc chắn ít nhất là con có biết – rằng người Thổ dân đã có thi ca, âm nhạc và những thiên truyện thần thoại có giá trị văn hóa lớn lao, nhưng bọn họ lại không có phương tiện gì để tấn công các dân tộc khác hay để tự vệ trước những quân lính, khí giới và vi trùng mà các nền kinh tế nông nghiệp vốn biết sản sinh thặng dư đã đem ra. Tương phản với đó, người Anh đến từ đại lục Á-Âu đã bị cả khí hậu lẫn nhu cầu ép buộc phải sản xuất thặng dư cũng như những thứ đi kèm, từ tàu biển cho tới vũ khí sinh hóa. Cũng vì đây mà khi họ đặt chân lên bờ biển Úc thì các Thổ dân chẳng có cơ hội nào.

“Thế còn châu Phi thì sao?”, con có thể sẽ hỏi một câu cũng hợp lý. “Tại sao lại không có lấy một quốc gia châu Phi nào trở nên mạnh đến mức có thể đe dọa châu Âu? Tại sao nạn buôn nô lệ lại là một con đường một chiều đến thế? Chẳng lẽ cuối cùng là người châu Phi không có năng lực như người châu Âu hay sao?”

Không phải như vậy đâu. Con hãy nhìn vào bản đồ và so sánh hình dáng của châu Phi với lục địa Á-Âu. Điều đầu tiên mà con sẽ nhận ra là châu Phi dài hơn theo hướng Bắc và Nam so với hướng Đông và Tây, lục địa này bắt nguồn từ Địa Trung Hải, vươn về phía Nam qua đường Xích đạo và tiếp tục cho đến khi nó đến khu vực khí hậu ôn đới ở Nam Bán cầu. Bây giờ con hãy ghé mắt nhìn qua đại lục Á-Âu nhé. Đại lục này lại có hành vi trái ngược hoàn toàn, từ Đại Tây Dương nó mở rộng về phía Tây mãi cho đến tận những bờ biển ở Trung Quốc và Việt Nam trông ra Thái Bình Dương.

Những như vậy thì sao? Điều ở trên có nghĩa là nếu con đi xuyên qua đại lục Á-Âu từ Thái Bình Dương đến Đại Tây Dương con sẽ gặp tương đối ít những thay đổi về khí hậu. Trong khi đó, ở châu Phi, nếu con đi từ Johannesburg ở phía Nam lên Alexandria ở phía Bắc thì con sẽ phải đi qua đủ loại khí hậu khác nhau – trong đó có một số khí hậu như rừng rậm nhiệt đới hay Sa mạc Sahara là vô cùng khắc nghiệt. Và tại sao những thông tin này là quan trọng? Đơn giản là vì các xã hội ở châu Phi mà đã phát triển được nông nghiệp (như vùng ở Zimbabwe ngày nay chẳng hạn) đều gặp khó khăn hơn nhiều khi phải bành trướng ra ngoài, bởi lẽ các cây lương thực của họ đều khó có thể đi xa, chúng không chịu bám rễ ở những vùng xa hơn về phía Bắc gần xích đạo hay thậm chí tệ hơn là ở Sa mạc Sahara. Ngược lại, các dân tộc Á-Âu một khi đã tìm ra cách sản xuất nông nghiệp thì đều có thể gần như tùy ý mà mở rộng ra phía Đông và Tây. Các cây lương thực của những dân tộc này (đặc biệt là lúa mì) có thể được gieo trồng ở những nơi ngày càng xa xôi, và rồi chúng để lại một vùng nông nghiêp tương đối thuần nhất từ Lisbon đến tận Thượng Hải. Đó là một thứ địa hình tuyệt hảo để tiến hành chiến tranh xâm lược – mà theo đó một dân tộc nông nghiệp cướp lấy thặng dư của một dân tộc khác và thu nạp luôn cả công nghệ của những người này – cũng như để xây dựng nên cả những đế chế.

Một thứ bất bình đẳng khác

Các điều kiện địa lý đã định trước rằng châu Phi, Úc và châu Mỹ sẽ bị đô hộ bởi người châu Âu. Hoàn toàn không liên quan gì đến ADN, nghị lực hay trí thông minh. Nói một cách đơn giản nhưng chính xác, tất cả đều là do dàng hình và vị trí của các lục địa khác nhau. Nhưng ngoài ra còn có một thứ bất bình đẳng khác nữa mà địa lý không giải thích được: đó là bất bình đẳng ở trong một cộng đồng hay một quốc gia. Để hiểu được bất bình đẳng này, chúng ta cần phải nói chuyện về nền kinh tế.

Con có nhớ làm sao để thặng dư nông nghiệp sinh ra cả nhà nước lẫn giới tăng lữ? Tích lũy thặng dư vừa là một kết quả vừa là một tiền đề cho sự tập trung quá mức của quyền hành và theo đó là quyền lực vào tay một thiểu số cai trị trên đầu những người còn lại. Hình thức này gọi là “chính trị đầu sỏ” (oligarchy), một thuật ngữ bắt nguồn từ các chữ oligoi (số ít) và arkhein (cai trị) trong tiếng Hy Lạp.

Có thể dễ thấy quá trình này tự thân nó tiếp diễn như thế nào: những kẻ có đặc quyền để sử dụng thặng dư tích lũy sẽ được tưởng thưởng bằng quyền lực về kinh tế, chính trị và thậm chí là văn hóa, qua đó mà họ lại lấy thêm được một phần càng lớn hơn của thặng dư chung. Con cứ hỏi bất cứ ai có kinh nghiệm thương trường thì họ cũng sẽ đều khẳng định rằng: kiếm một triệu bảng khi đã có trong tay vài triệu bảng là dễ dàng hơn nhiều. Ngược lại, nếu trong tay con chẳng có gì thì ngay cả một nghìn bảng cũng trông như một giấc mơ không tìm thấy.

Tóm lại, bất bình đẳng sinh sôi ở hai cấp độ: thứ nhất là trên quy mô toàn cầu, mà điều này giải thích tại sao một số nước lại tiến vào thế kỷ 20 và 21 trong cảnh nghèo rớt mồng tơi, trong khi một số nước lại được hưởng mọi thành quả của quyền lực và của cải mà nhiều khi có được do đi cướp bóc các nước nghèo hơn. Quy mô thứ hai là ở trong chính mỗi xã hội, nhưng có một điều cũng thường đúng là một vài cá nhân giàu có trong các nước nghèo nhất lại có nhiều của cải hơn rất nhiều người giàu nhất trong các nước giàu hơn.

Câu chuyện mà bố kể cho con đến lúc này đã lần theo dấu vết của cả hai loại bất bình đẳng về đến lúc thặng dư kinh tế ra đời trong thời kì của cuộc cách mạng công nghệ đầu tiên của nhân loại – đó là công cuộc phát triển nông nghiệp. Trong chương tiếp theo, ta hãy cùng đi theo câu chuyện về bất bình đẳng đến với cuộc cách mạng công nghệ tiếp theo, mà nó sẽ đem lại cho chúng ta những như máy móc như máy hơi nước, máy tính và kèm theo đó là xã hội nơi con đang lớn lên, với những mức độ bất bình đẳng mà chỉ có nông nghiệp không thôi sẽ không tài nào giải thích được.

Nhưng vài lời động viên trước đã.

Bất bình đẳng như một ý thức hệ tự kéo dài

Khi bố nhắc đến tầng lớp tăng lữ và vai trò của họ, bố đã kể về cái cách mà ý thức hệ đã ban tặng tính chính danh trong mắt mọi người đối với sự phân phối thặng dư bất công – cả trong mắt người có lẫn người không có. Ý thức hệ hiệu quả đến mức nó tạo ra một tấm lưới đan bằng đức tin, một thứ cũng tựa hồ như thần thoại vậy.

Con thử nghĩ mà xem, không có gì được tái tạo dễ dàng hơn là lòng tin của những người giàu có rằng mình xứng đáng có được những gì mình có. Từ khi còn bé, con đã mắc vào một nghịch lý logic mà chính con cũng chỉ ngờ ngợ nhận ra. Một bên, con cảm thấy bức xúc khi nghĩ rằng có những đứa trẻ phải vừa khóc vừa cố ngủ vì các em đói bụng. Nhưng con đồng thời cũng tin (như mọi đứa trẻ) rằng đồ chơi, áo quần và nhà của con là của con như đúng ra nó phải thế. Tâm trí con người ta cứ tự động làm một phép tương đương giữa “tôi có X” và “tôi xứng đáng có X”. Khi ánh mắt chúng ta chiếu xuống những người không có cả những nhu cầu tối thiểu, chúng ta ngay lập tức sẽ cảm thấy thông cảm và tỏ ra bất bình rằng những người này không có đủ, nhưng không một giây phút nào chúng ta lại tự cho phép mình nghĩ rằng sự thiếu thốn của họ cũng là hệ quả của một quá trình vốn đã khiến chúng ta trở nên giàu có. Đây là cơ chế tâm lý vốn đã khiến người giàu và người có quyền (thông thường đây là những người giống nhau) tin rằng thật là phải đạo, thích đáng và cần thiết để bọn họ có nhiều trong khi kẻ khác có ít hơn rất nhiều.

Đừng quá khắc nghiệt với những người này con nhé. Thật dễ dàng đến mức khó tin để ta tự huyễn mình rằng: trật tự của thế giới – nhất là khi nó có lợi cho ta – là logic, tự nhiên và công bình. Nhưng đồng thời con hãy tỏ ra khắc nghiệt trước sức cám dỗ trong lòng chính mình để chấp nhận những bất bình đẳng mà con, một thiếu niên, cảm thấy chúng thật thái quá. Khi con cảm thấy như mình sắp bị cuốn theo cái ý nghĩ rằng bất bình đẳng sâu sắc là không thể tránh khỏi mà không biết tại sao, con hãy nhớ mọi chuyện bắt đầu ra sao: với những đứa bé được sinh ra trần truồng trong một xã hội mà sẽ sớm chia tách chúng, một bên là những đứa trẻ được khoác lên những bộ quần áo đắt tiền, còn một bên là những đứa trẻ bị bỏ rơi trong cái đói, bóc lột và nỗi thống khổ. Hãy duy trì lòng bức xúc của con, nhưng nhớ kèm theo tư duy và chiến thuật, để rồi đến khi cần thiết con sẽ hướng sự bức xúc vào những việc cần làm để cho thế giới của chúng ta thực sự trở nên logic, tự nhiên và công bình.

Chương 2: Sự ra đời của xã hội thị trường

Bây giờ đang là hoàng hôn trên đảo Aegina. Mùa hè. Chúng ta đang ngồi trên khoảnh sân dưới mái hiên mà nhìn ra biển, về phía mặt trời đỏ chói đang dần lặn sau dãy núi Peloponnese. Cũng giống như bố của bố từng làm khi bố đây còn bé, bố quay sang và bắt đầu giải thích cho con theo quan điểm khoa học tại sao mặt trời có màu đỏ khi nó đang dần biến mất sau chân trời. Giờ phút đẹp này của con thế là đi tong.

Một lúc sau cũng vào buổi tối hôm đó, cả nhà trèo lên chiếc thuyền của chúng ta và cùng đi đến quán ăn quen thuộc trên bãi biển Marathonas, đi cùng còn có gia đình một người bạn và Paris là con trai còn nhỏ của bọn họ. Trong khi mọi người cùng gọi đồ ăn tối, Paris bắt đầu kể truyện cười và chẳng mấy chốc sau nhiều câu chuyện như vậy thì ai cũng cười nắc nẻ, và cả con cũng vậy, trong khi con bình thường bao giờ cũng cười cuối cùng vì nếu không thì trông con sẽ không hay như tính tình thật của con.

Trước khi đồ ăn được phục vụ, thuyền trưởng Kostas vốn vừa buộc chiếc thuyền câu cá của ông ngay cạnh thuyền của nhà ta trên cầu tàu đối diện nhà hàng cần con giúp đỡ một việc. Neo thuyền của ông đang mắc kẹt dưới một tảng đá ở đáy biển, còn sợi xích thì đã đứt khi vị thuyền trưởng cố sức mà kéo neo ra. Ông khẩn khoản: “Làm ơn với, bác biết cháu thích lặn thế nào mà, cháu có thể nhảy xuống và thòng sợi dây này vào sợi xích neo được không? Bác có thể tự làm được nhưng hôm nay bác đang lên cơn thấp khớp mất rồi”. Con trả lời: “Được chứ ạ”, chớp lấy cơ hội được trở thành một nữ anh hùng trong giờ phút cần kíp và kiêu hãnh nhảy ùm vào biển.

Hoàng hôn. Con khó chịu với bố. Những câu chuyện gây cười của Paris. Niềm vui được nhảy vào lòng biển đơn giản chỉ vì thuyền trưởng Kostas bảo con làm thế. Đây là chất liệu cho niềm vui mùa hè của con. Đúng nghĩa đen thì đó đều là các “sản phẩm” (goods) như là sự vật đối lập của những gì “xấu” (bads) chẳng hạn như cảm giác của con khi một người bạn bị thương, khi con phải làm bài tập về nhà đầy chán ngán, khi con cảm thấy cô đơn hay chơi vơi trong cuộc sống. Bây giờ con hãy để ý đến sự khác biệt của các sản phẩm này, vốn đong đầy cho cuộc sống một niềm hạnh phúc sâu sắc vô bờ, với những món hàng được nhắc đến trong môn kinh tế học – những thứ mà con thấy ở trên kệ của cửa hiệu, được bán ở trên Amazon hay được ti vi quả quyết rằng con đang cần. Những món hàng này là một cái gì đó nhiều hơn, có thể đồng thời cũng là cái gì đó ít hơn, nhưng chắc hẳn là một điều gì đó khác biệt. Dù chúng ta cũng gọi chúng là những sản phẩm (goods), một chữ khác để chỉ những sự vật này mà có thể đỡ gây hiểu nhầm hơn là thương phẩm (commodities).

Vậy thì sự khác nhau giữa sản phẩm và thương phẩm là gì?

Hai loại giá trị

Hoàng hôn trên đảo Aegina, những mẩu truyện cười của Paris và chuyến lặn của con để giúp thuyền trưởng Kostas – tất cả những thứ này đều không thể đem ra mua bán. Thương phẩm, ngược lại, là những sản phẩm được làm ra để đem bán.

Bố không biết con đã nhận ra điều này chưa, nhưng những xã hội nơi chúng ta đang sống đang nhầm lẫn giữa sản phẩm và thương phẩm. Chúng ta hay nghĩ rằng một sản phẩm hễ càng đắt thì chất lượng sẽ càng tốt. Thêm vào đó và lại càng quan trọng hơn, có một giả định rằng càng được hứa cho nhiều tiền khi lựa chọn hoặc làm gì đó hoặc bỏ qua thì con người sẽ càng sẵn sàng làm điều đó hơn. Nhưng thực thế không giống vậy cho lắm. Đúng, điều này là đúng đối với thương phẩm: Chúng ta càng sẵn sàng trả giá cao cho Apple để mua một chiếc iPad bao nhiêu, hay trả giá cao cho nhà hàng gần nhà để mua món mousaka tuyệt hảo của họ bao nhiêu, thì Apple sẽ càng muốn sản xuất nhiều iPad hơn và người nấu bếp của nhà hàng sẽ càng muốn làm nhiều mousaka hơn bấy nhiêu. Nhưng cùng một điều này lại không nhất thiết là đúng đối với những truyện cười của Paris. Nếu chúng ta bảo với Paris rằng ta sẵn sàng trả tiền cho cậu bé để được nghe cậu kể nhiều truyện cười hơn, và số tiền này sẽ tỉ lệ thuận với việc chúng ta cười nhiều hay ít, thì Paris sẽ thấy thật là kỳ quặc và đâm ra ngại. Viễn cảnh được trả tiền có thể sẽ khiến cậu bé đánh mất khả năng hài hước của mình. Hoặc là, hãy lấy ví dụ của con và thuyền trưởng Kostas, nếu bác ấy hứa sẽ trả tiền để con đi lặn thì con chưa chắc đã cảm thấy vui như vậy. Đột nhiên một nghĩa cử sinh ra từ lòng trắc ẩn và sự phiêu lưu sẽ bị mất đi, và rất có thể rằng số tiền nhỏ làm phần thưởng kia sẽ không thể bù đắp cho mất mát này.

Đúng, nếu Paris sau này lớn lên trở thành một nghệ sĩ hài chuyên nghiệp, hay nếu con trở thành thợ lặn chuyên nghiệp, thì những câu truyện cười của cậu ta và những chuyến lặn của con sẽ trở thành thương phẩm: các con sẽ bán những thứ này đổi lấy một số tiền cụ thể – chúng sẽ có một giá thị trường – và mức giá này sẽ phản ánh giá trị đổi chác (exchange value) của các sự vật này – tức giá trị của chúng trong một thị trường để đổi lấy một thứ gì đó khác. Nhưng chỉ khi và cho đến khi những điều trên xảy ra, thì giá trị của những sự vật này thuộc về một phân loại hoàn toàn khác. Chúng ta có thể gọi phân loại này là giá trị trải nghiệm (experiential value). Một chuyến lặn biển, một buổi hoàng hôn, một mẩu truyện cười: cả ba thứ này đều có thể có một giá trị trải nghiệm lớn lao và tuyệt nhiên không có chút giá trị đổi chác nào cả.

Hai loại giá trị này, tức giá trị trải nghiệm và giá trị đổi chác, không thể khác nhau nhiều hơn. Nhưng trong xã hội ngày nay thì thường mọi sản phẩm đều bị đánh đồng với thương phẩm, và cũng tương tự thì mọi giá trị đều được đo đếm – ít ra là bởi các kinh tế gia – cứ như thể chúng là giá trị đổi chác. Bất cứ thứ gì không có giá, bất cứ thứ gì không bán được, đều có xu hướng bị xem là không giá trị; và ngược lại thì người ta nghĩ rằng bất cứ thứ gì có giá cả đều là đáng để ước ao.

Một ví dụ rất hay cho sự nhầm lẫn này là thị trường máu. Ở nhiều nước, người ta tự nguyện hiến máu của mình miễn phí vì họ cảm thấy mình cần giúp đỡ người khác đang gặp nguy hiểm về tính mạng. Ở một số nước khác, người cho máu được bù đắp bằng tiền cho lượng máu mà họ cho. Con nghĩ rằng ở đâu có nhiều máu được cho hơn?

Trong khi bố vẫn chưa hỏi xong câu này thì bố cũng cá là con đã đoán ra câu trả lời: người ta đã quan sát thấy ở các quốc gia mà trong đó người ta được trả tiền để cho máu thì lượng máu được cho là ít hơn đáng kể so với tại các quốc gia mà trong đó máu được hiến tặng miễn phí. Có vẻ như việc trả tiền đã làm cho nhiều người cho máu chán nản hơn là việc này đã thu hút những người cho máu quan tâm đến số tiền nhận được.

Những người lẫn lộn giữa sản phẩm (goods) và thương phẩm (commodities) không hiểu tại sao lượng máu được cho lại giảm khi người cho được trả tiền. Bọn họ ngạc nhiên sửng sốt trước sự thật rằng những đối tượng cho máu tiềm năng lại quyết định sẽ không cho máu nữa vì họ được hứa sẽ được cho tiền để đổi lấy điều này. Nhưng mọi chuyện thực ra cũng dễ hiểu nếu như con nhớ đến việc thuyền trưởng Kostas nhờ con ra lặn giúp. Khi bác ấy phải nài nỉ con lặn xuống biển, lại còn vào ban đêm nữa chứ, để giúp bác ấy sửa cái mỏ neo, thì cái cảm giác mình là một đứa trẻ gan dạ tốt bụng đã giúp con vượt qua nỗi sợ lòng biển tối tăm và những sự bất tiện của nào là phải cởi bỏ quần áo ngoài, nào là cái lạnh, rồi lại còn bị ướt và muối mặn trên da nữa chứ. Rất có thể rằng nếu bác ấy bảo với con “Bác sẽ cho cháu năm euros để cháu lặn xuống biển” thì con đã chẳng làm được vậy rồi.

Điều trên đây cũng đúng với việc hiến máu. Nhiều người cho máu cảm thấy vui vì cho đi chính máu của mình, nhưng nếu được hứa cho một số tiền thì sự chú sẽ dồn vào khía cạnh đổi chác thay vì khía cạnh cống hiến, vì vậy mà niềm vui cũng sẽ tiêu tan. Trong khi đó, số tiền có thể nhận được không đủ để bù đắp cho niềm vui đánh mất này, đó là chưa nói đến việc mất thời gian và sự đau đớn khi có một chiếc kim tiêm chọc vào tay của mình.

Oscar Wilde từng viết rằng: một kẻ hoài nghi tất cả (cynical) là một người biết giá tiền của mọi thứ nhưng không biết giá trị của thứ gì cả. Những xã hội của chúng ta đã biến ai cũng thành đâm ra hoài nghi tất cả. Và không ai lại hoài nghi nhiều hơn một nhà kinh tế học vốn chỉ thấy giá trị đổi chác là thứ giá trị duy nhất, qua đó mà coi thường giá trị trải nghiệm trong một xã hội mà trong đó tất cả mọi thứ đều được đánh giá theo những tiêu chí của thị trường. Nhưng làm cách nào mà giá trị đổi chác lại chiến thắng được giá trị trải nghiệm như vậy?

Cái gì cũng bị thương mại hóa

Con hãy tưởng tượng ra cảnh: chủ nhật Lễ Phục sinh. Chúng ta đã cùng nhau ăn uống từ sáng đến giờ. Người lớn bọn bố đã làm quần quật trong hai ngày trời để chuẩn bị thức ăn, nhà cửa và bày biện bàn ghế. Đầu giờ tối hôm đó, khi buổi tiệc đã kết thúc và nhà cửa bừa bộn, bố nhờ con giúp bố dọn dẹp nhà cửa cho gọn đi một chút. Con tỏ vẻ bất cần và hỏi “Bố muốn bao nhiêu tiền, thưa bố, để tha cho con không phải làm việc này? Con sẽ lấy ống heo tiết kiệm ra và đưa tiền cho bố”. Con nghĩ bố sẽ trả lời thế nào? Đơn giản là không có giá tiền nào lại đủ để bù đắp cho sự thất vọng của bố.

Trong một gia đình, giữa những người bạn hay trong cộng đồng, người ta sẽ làm việc nọ việc kia để giúp nhau. Đây cũng là một dạng của đổi chác, nhưng không phải theo nghĩa thương mại và hoàn toàn không giống một sự trao đổi trên thị trường. Chúng ta đang trao đổi sức lao động trong phạm vi gia đình khi bố thì rửa bát còn con thì đi đổ rác. Đó là một sự trao đổi cũng giống như việc ta trao đổi quà mỗi mùa Giáng sinh, hay như tinh thần tương trợ giữa hàng xóm láng giềng giúp nhau khi cần. Những sự đổi chác này đều mang tính chất cá nhân và phản ánh những mối dây liên kết lâu dài, cũng như phản ánh tình cảm sâu đậm của gia đình và của cộng đồng. Ngược hẳn lại, các giao dịch trên thị trường thì là đối nghịch hoàn toàn: thoáng chốc, lạnh lẽo, vắng bóng con người, giống như khi con đặt mua một quyển sách trên Amazon chỉ bằng một cái nhấp chuột.

Cách đây rất lâu thì phần lớn mọi sản phẩm đều được sản xuất ra ở ngoài phạm vi các giao dịch thương mại – nói một cách khác đi là ngoài thị trường. Những sản phẩm này đều được làm ra theo một cách gần hơn với cách mà chúng ta phân công lao động trong gia đình. Điều này không nhất thiết có nghĩa là thế giới là tốt đẹp hay đạo đức hơn. Trong hàng thế kỷ nếu không phải là thiên niên kỷ, phụ nữ bị gán cho các công việc tệ hại nhất trong những hộ gia đình vốn gia trưởng và phân biệt giới, đó là chưa nói đến các nô lệ (slaves) và nông nô (serfs) phải làm thân trâu ngựa trong khi chịu cảnh cùm gông trong thực tế hay trong tưởng tượng. Chính thực tế rằng phần lớn lao động hay sản xuất được diễn ra trong phạm vi hộ gia đình đã cho ra đời chữ oikonomia trong tiếng Hy Lạp vốn là ghép của hai chữ: oikos (”hộ gia đình”) và nomoi (”luật, quy tắc, ràng buộc”). Đây là chiết tự của chữ “economy” (kinh tế, nền kinh tế), với nghĩa đen kiểu như là “các quy tắc để vận hành hay quản trị một gia đình”.

Một gia đình làm nông sẽ tự làm bánh mì của mình, tự làm pho mát, đồ ngọt, thịt, quần áo và vân vân. Trong những năm tốt, khi mùa màng bội thu và có dư thừa sản phẩm, phần thặng dư như cà chua hay lúa mì dôi ra sẽ được trao đổi lấy sản phẩm của những người nông dân khác, những thứ mà vốn gia đình này không tự sản xuất được như lưỡi liềm hay quả mơ chẳng hạn. Trong những năm xấu, khi mọi người thắt lưng buộc bụng và phải chịu cảnh thiếu thốn thì các giao dịch buôn bán này không diễn ra, bởi lẽ không có thặng dư để đổi lấy các sản phẩm khác. Trong một phần đáng kể của lịch sử nhân loại, một nền kinh tế hộ gia đình chủ yếu là sản xuất ra các các sản phẩm (goods), và chỉ thỉnh thoảng mới sản xuất ra thương phẩm (commodities).

Từ khoảng hai hay ba trăm năm nay, xã hội của chúng ta đã chuyển tiếp sang một giai đoạn mới của lịch sử loài người. Ngày càng nhiều sản phẩm được biến thành thương phẩm, trong khi mỗi ngày thì phần sức lao động của chúng ta mà được dùng để làm ra các sản phẩm tự dùng cũng ngày một thu nhỏ. Con nhìn vào tủ bếp của nhà ta mà xem, con sẽ thấy rất nhiều thứ được sản xuất ra vì giá trị đổi chác của chúng, những thứ mà gia đình ta không thể tự sản xuất được dù có cố gắng thế nào.

Sự thương mại hóa (commodification) nói trên – cũng như chiến thắng không thể ngăn chặn của giá trị đổi chác trước giá trị trải nghiệm – không bị giới hạn bởi nhà bếp của chúng ta. Ngày xửa ngày xưa, những người nông dân thường tự sản xuất ra nguyên liệu của mình: thức ăn chăn nuôi, chất đốt và hạt giống. Ngày nay, bọn họ mua lấy phần lớn sản phẩm đầu vào từ các công ty đa quốc gia vốn sở hữu năng lực công nghệ để làm ra thức ăn cho bò sao cho chúng béo lên nhanh hơn với chi phí thấp hơn, nhiên liệu để chạy máy kéo làm bằng công nghệ mới nhất, hạt giống được tạo ra bằng công nghệ di truyền khiến cây trồng chống chịu tốt hơn với nóng, lạnh, và thậm chí là chống chịu tốt hơn chính những thứ thuốc sâu hóa học được chính những công ty này sản xuất. Để đảm bảo lợi nhuận của mình, các công ty này dùng bằng sáng chế nhằm khẳng định quyền sở hữu hợp pháp đối với chất liệu gene cho hạt giống hay thậm chí là một giống vật nuôi mới được họ chế tạo ra trong phòng thí nghiệm. Theo cách này thì chúng ta đã đến cái điểm mà tại đó thị trường đã mở rộng ra đến mức ngay cả gene cũng có một giá trị đổi chác.

Từng chút một, tiến trình thương mại hóa này lan tỏa đến mọi nơi: ngay cả tử cung của một người mẹ cũng có được giá trị đổi chác khi nó được thuê một cách chính thức và hợp pháp bởi một cặp vợ chồng mà nếu không làm vậy thì sẽ không có con được, mà thuê được rồi thì người ta sẽ cấy vào chiếc tử cung bào thai đã được thụ tinh trong ống nghiệm của cặp vợ chồng này. Không còn lâu nữa chúng ta sẽ mua bán thiên thạch ở ngoài vũ trụ, thế là đế chế của thị trường và giá trị đổi chác đã mở rộng ra từ quy mô hiển vi ra quy mô vô tận.

Và trong khi đó thì chữ “economy” (kinh tế) đã trở thành một cái tên sai. Trong xã hội nơi mà con đang lớn lên thì nền kinh tế đã không còn mối liên hệ nào với từ oikonomia nữa. Phần lớn tất cả những gì chúng ta sản xuất và tiêu thụ đều là ở bên ngoài oikos, tức hộ gia đình. Mà như vậy thì các quy tắc trong hộ gia đình, tức nền kinh tế thuở ban sơ, bây giờ chẳng còn ý nghĩa gì nữa và không thể đem chút ánh sáng nào chiếu vào các hiện tượng kinh tế của ngày nay. Có lẽ một chữ tốt hơn để chỉ thứ vẫn được người ta gọi là economy lại là “agoranomy”, tức các quy tắc của agora – thị trường. Nhưng economy vẫn là chữ mà ai cũng sử dụng để chỉ nền kinh tế, nên chúng ta vẫn sẽ sử dụng chữ này.

Một thế giới vắng bóng logic của thị trường

Như con có biết, theo nhà thơ Hy Lạp cổ đại là Homer thì các nhân vật trong Cuộc chiến Thành Troy đã phải cực khổ trần ai, gây sự với nhau và thậm chí hi sinh cả tính mạng trong sứ mệnh giành lấy những thứ “sản phẩm” như vinh quang, chiến lợi phẩm, danh dự, những lợi lộc của việc được nhà vua Agamemnon xem trọng, và những thứ khác nữa. Homer kể lại với chúng ta rằng: người chiến binh Achilles, vì giận Agamemnon do ông này quyết lấy được một thứ chiến lợi phẩm mà Achilles đã lấy được trong một trận đánh, mà đã đình công trong một khoảng thời gian dài và cố ý đứng ngoài cuộc khi đánh nhau, cứ thế kéo dài gần hết thời gian của Cuộc chiến Thành Troy. Mặc dù Agamemnon biết thừa rằng ông ta cần Achilles giúp, ông ta không có lúc nào lại nghĩ rằng có thể đem ra một phần thưởng tiền – tức đem tiền bạc ra để bù đắp cho những chiến lợi phẩm mà ông ta lấy được. Nếu Agamemnon có đề xuất một điều tương tự đi chăng nữa thì không có nghi ngờ gì rằng: Achilles sẽ chỉ có thể thấy bị xúc phạm hơn mà thôi.

Không phải chỉ có các thi sĩ Hy Lạp cổ đại mới đánh đồng những thứ sản phẩm phi thương mại với các sản phẩm tốt đúng nghĩa. Thi sĩ La Mã cổ đại là Ovid đã kể lại câu chuyện về cuộc đụng độ giữa hai chiến binh Hy Lạp là Ajax và Odysseus để tranh nhau số vũ khí của Achilles vốn vừa mới tử trận – đó là những món đồ đẹp tuyệt mỹ được chính tay thần Hephaestus làm ra theo lời yêu cầu của mẹ Achilles. Theo lời Ovid thuật lại, các tướng lĩnh Hy Lạp đồng ý cùng nhau nghe cả hai người này trình bày luận điểm của mình trước khi quyết định xem ai là người xứng đáng mang trên người các binh khí của vị á thần (demigod) vừa ngã xuống. Cuối cùng thì những lập luận của Odysseus, vốn là kiến trúc sư thiên tài đằng sau Con ngựa Thành Troy, đã giành thắng lợi trước những lập luận của chiến binh can trường Ajax, và thật buồn là Ajax lại tự kết liễu đời mình khi nghe được quyết nghị của những kẻ ngang hàng với mình.

Một cuộc tranh chấp những món đồ quý giá như vậy sẽ được giải quyết thế nào vào ngày nay? Khả năng cao nhất là chúng ta sẽ tổ chức một cuộc đấu giá, sau đó kẻ nào trả giá cao hơn sẽ có thể khệnh khạng bước đi với các món binh khí của Achilles. Thế thì tại sao người Hy Lạp cổ đại lại không nghĩ đến việc tổ chức đấu giá? Câu trả lời là nếu tổ chức đấu giá thì sẽ chỉ tổ phí công và bất nhã, đó là vì điều quan trọng với cả Ajax lẫn Odysseus không phải là giá trị đổi chác của những thứ vũ khí này. Cái quan trọng ở đây là một loại giá trị khác hẳn: đó là vinh dự được những người ngang hàng cho rằng mình xứng đáng được cầm binh khí của Achilles. Nếu quyền sở hữu được quyết định dựa việc vào ai trả giá cao nhất trong một buổi bán đấu giá, thì việc mang vũ khí của Achilles lại trở thành như một nỗi nhục nhã: mỗi lần kẻ thắng cuộc nhìn vào vũ khí của mình bên trong lều, y lại một lần nữa được nhắc nhở rằng mình đã không có được chúng một cách xứng đáng.

Lý do của sự khác biệt nói trên giữa thế giới của bọn họ và thế giới của chúng ta cũng là điểm khác biệt giữa một xã hội có thị trường (society with market) và xã hội thị trường (market society) của ngày nay. Vào thời của Homer thì chỉ một thiểu số rất nhỏ của các hàng hóa mới phải đi qua bất cứ một loại thị trường nào. Thương phẩm, thị trường và giá trị đổi chác đúng là có tồn tại và giữ một vai trò quan trọng trong thời cổ đại: người Phoenicia xa xưa, người Hy Lạp, người Ai Cập, người Trung Quốc, người Melanesia và hằng hà sa số các dân tộc buôn bán khác đã từng du hành nhiều nghìn dặm đường, họ mang theo đủ các loại hàng hóa khác nhau từ đầu này đến đầu kia của thế giới, tận dụng lấy sự khác biệt trong giá trị đổi chác giữa nơi này đến nơi khác. Những các xã hội này không được cai quản dựa theo logic của thị trường. Để hiểu được hành vi của các nhân vật của Homer hay những cư dân đế chế La Mã và tại sao họ lại có những hành vi này, đầu tiên và quan trọng nhất là chúng ta phải hiểu được các giá trị văn hóa và trải nghiệm của họ đã.

Cũng như hành vi của Achilles Odysseus and Ajax là khó có thể hiểu được đối với một doanh nhân Hàn Quốc hay Hoa Kỳ ngày nay, thì cách hành xử của những con người trong thế giới đương đại cũng sẽ là vô cùng khó hiểu với các chiến binh thời cổ đại. Bởi vì, để hiểu được tại sao những con người xung quanh chúng ta lại có những hành vi như thế, thì con phải hiểu được rằng những hành vi này được đan cài vào xã hội thị trường, nơi mà giá trị đổi chác có vị trí thống lĩnh. Cuộc sống trong các xã hội thị trường chỉ có thể hiểu được nếu áp dụng một cái khuôn kinh tế (đúng ra phải gọi là agoranomy). Lẽ dĩ nhiên là văn hóa, tập quán và đức tin vẫn là quan trọng, nhưng ngay cả các di sản nói trên từ một thế giới mà nơi đó thị trường vẫn ở bên lề và giá trị trải nghiệm vẫn có vai trò cao nhất thì chúng ngày nay vẫn ảnh hưởng đến thế giới thông qua kênh thị trường. Đây là lý do tại sao bố cứ luôn miệng nói chuyện với con về kinh tế.

Bây giờ thì câu hỏi là: làm thế nào và tại sao mà xã hội có thị trường lại trở thành xã hội thị trường?

Sự ra đời của xã hội thị trường

Quá trình sản xuất cần đến ba yếu tố cơ bản như sau:

  • Nguyên liệu mà cuối cùng thì sẽ phải được khai thác từ thiên nhiên (ví dụ như quặng sắt) các công cụ và máy móc được sử dụng để chế biến chúng, tường rào và nhà cửa để chứa tất cả, cà một bộ sậu các loại hạ tầng – những thứ này được gọi là các phương tiện sản xuất được sản xuất, hay như các nhà kinh tế thường gọi là hàng hóa tư bản (capital goods).
  • Đất hay không gian, chẳng hạn như một nông trại, một hầm mỏ, một nhà xưởng hay văn phòng, nơi mà quá trình sản xuất diễn ra.
  • Sức lao động để thổi lấy sự sống vào trong sản phẩm.

Ở trong các xã hội thời trước thì không có yếu tố sản xuất nào nêu trên là thương phẩm. Chúng là sản phẩm chứ không phải là thương phẩm. Hãy lấy sức lao động ra là một ví dụ. Con người đã luôn phải lao động, có thể trong quá khứ còn cực nhọc hơn cả ngày nay. Mồ hôi nước mắt lao động của con người có ở tất cả mọi nơi, nhưng sự vật mà ngày nay chúng ta gọi là thị trường lao động (con hãy nghĩ đến những trang cuối trong một tờ báo nơi những người sử dụng lao động đăng lên các thông báo việc tìm người) thì chưa có ai biết cả, thậm chí nó là không thể hình dung được. Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến thi các nô lệ và nông nô đều phải làm lụng khổ sở nhưng không bán (hoặc cho thuê) sức lao động của mình cho những người chủ. Những người chủ này đơn giản chỉ lấy đi một phần lớn của thu hoạch mùa màng một cách cưỡng bức, mà thông thường đi sau còn là mối đe dọa sử dụng vũ lực. Còn về phần các công cụ (các phương tiện sản xuất được sản xuất), những thứ này một là được chính các nông nô tự sản xuất ra, hai là được chế tác bởi các thợ thủ công vốn làm việc trong cùng một thái ấp và được nuôi sống bằng những người nông nô để đổi lại cho các công cụ được họ chế tác – cũng khá giống với một bàn ăn tối của gia đình nơi mà mỗi người ai cũng đóng góp một chút. Cuối cùng, đất đai lúc đó cũng không phải là một thương phẩm: hoặc là con sinh ra đã là địa chủ và hoàn toàn không có ý định bán đất của tổ tiên vì làm vậy là một điều tối kỵ, hoặc con sinh ra làm nông nô và theo đó thì số phận đã định đoạt con sẽ không bao giờ sở hữu một tấc đất nào cả.

Xã hội thị trường ra đời khi phần lớn các hoạt động sản xuất đều được huy động thông qua thị trường và theo đó các yếu tố sản xuất nêu trên cũng biến thành thương phẩm, trong quá trình này thì chúng tự gán cho mình một giá trị đổi chác. Người lao động được “tự do” để bán sức lao động của mình đổi lấy tiền bạc trong một “thị trường lao động” mới vừa được tạo ra. Và dĩ nhiên là đất đai cuối cùng cũng có được một giá trị đổi chác khi chúng được mua bán và cho thuê trên các thị trường bất động sản mà cũng lại vừa được sinh ra.

Như vậy thì làm cách nào mà Sự Biến đổi Vĩ đại này đã diễn ra? Tại sao bất thình lình mà cả ba yếu tố sản xuất đều trở thành thương phẩm?

Thương mại toàn cầu

Như con có thể hình dung thì đây là một câu chuyện dài,và nếu bố cố gắng kể câu chuyện này một cách chi tiết thì con sẽ không đời nào nghe bố nói cả. Như vậy trong vài nét phác họa chủ yếu thì câu chuyện là như sau. Mọi chuyện đã bắt đầu cùng với sự phát triển công nghiệp đóng tàu ở châu Âu, và với việc la bàn mà người Trung Quốc đã phát minh ra được sử dụng, kèm theo đó là nhiều tiến bộ chung khác trong các biện pháp định vị khi đi biển. Tất cả những điều này đã giúp những nhà hàng hải châu Âu tìm ra những tuyến đường biển mới, mà điều này đã châm ngòi cho sự phát triển của thương mại toàn cầu.

Những nhà buôn người Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chất vải len Anh và Scotland lên đầy thuyền của mình, đến Thượng Hải họ liền trao đổi số len này để đổi lấy tơ tằm Trung Quốc, rồi tơ tằm lại được đổi ở Yokohama lấy kiếm do Nhật sản xuất, kiếm Nhật lại được đổi ở Bombay để lấy gia vị, và rồi số gia vị này lại được trở về London để đổi lấy rất rất nhiều vải len so với lượng len ban đầu khi xuất phát. Và rồi họ cứ thế mà tái diễn chu trình này.

Thế là những sản phẩm chẳng hạn như len, gia vị, tơ tằm và kiếm thép trở thành các sản phẩm với một giá trị quốc tế – tức những thứ hàng hóa toàn cầu mà giá trị đổi chác của chúng được xác định trên quy mô quốc tế – còn những nhà buôn và nhà sản xuất những sản phẩm này trên các thị trường mới đều trở nên thực sự giàu có. Giới địa chủ ở những nơi như Anh và Scotland đều tỏ ra hoảng sợ khi họ thấy những kẻ có địa vị xã hội thấp hơn, tức giới nhà buôn và thủy thủ đầy cơ hội, gom về cho mình những gia sản vốn có nguy cơ sẽ trở nên to lớn hơn nhiều so với gia sản của chính những người địa chủ này. Rồi cho đến một lúc thì bọn họ bắt đầu nghĩ đến một chuyện không tưởng: nếu chúng ta không đánh bại được bọn con buôn dơ bẩn, tại sao không nhập bọn cùng với chúng? Khi nhìn ra ngoài cửa sổ lâu đài và nhìn xuống những kẻ nông nô đang làm lụng quần quật trên đất của mình, người địa chủ đặt câu hỏi: đám nông nô này gieo trồng củ hành và củ dền để làm cái gì cơ chứ? Củ dền thì có giá trị gì ở trên thị trường quốc tế? Chẳng có giá trị gì cả!

Và thế là bọn họ đã có một quyết định táo bạo: bỏ hết cái mớ cây trồng như củ dền hay củ hành vốn dễ hư hỏng kia đi; rào đất của mình lại và qua đó tạo ra những khu đất lớn có tường bao quanh, đuổi cổ những kẻ nông nô khốn khổ và thay vào đó là hàng đàn cừu vốn ngoan ngoãn và lại có bộ lông có thể bán được giá hời trên thị trường quốc tế. Thế là nước Anh phải trải qua một trong những cuộc đại phẫu lớn nhất trong lịch sử loài người, thường được gọi là phong trào rào đất (enclosures).

Chỉ trong vòng có vài thập kỷ mọi thứ đã bị thay đổi mãi mãi. Làng quê nước Anh hoàn toàn thay da đổi thịt. Cảm giác liên tục mà người nông nô đã có trong vòng nhiêu thế kỷ – họ đã sống từ thế hệ này sang thế hệ khác trên cùng một mảnh đất, với cùng những người lãnh chúa, học theo những lề thói và nghề nghiệp của cha mẹ mình – bị chấm dứt một cách đột ngột. Hơn 70 phần trăm nông dân bị đuổi ra khỏi nhà và khỏi những mảnh đất đã sinh sống từ thời tổ tiên. Tất cả thật thương đau, tàn bạo, nhẫn tâm và … rất hiệu quả.

Tiến trình biến đổi nước Anh từ một xã hội có thị trường thành một xã hội thị trường được bắt đầu như thế đó, việc đuổi cổ nông nô ra ngoài đã biến cả sức lao động lẫn đất đai thành thương phẩm. Bằng cách nào cơ? Ừ thì bố hay là con sẽ làm gì nếu đột nhiên một ngày đẹp trời chúng ta bị bỏ rơi vô gia cư trên một con đường lầy lội ở một miền quê nước Anh? Rất có thể chúng ta sẽ cuốc bộ sang ngôi làng bên cạnh, gõ lấy cánh cửa đầu tiên mà ta thấy, sau đó van nài: “Chúng tôi sẽ làm tất cả mọi thứ để có một mẩu bánh mì và một chỗ trú”. Chính là đây: sự ra đời của thị trường lao động – một thị trường nơi những con người không có đất hoặc không có công cụ phải tìm cách tồn tại bằng cách bán chính sức lao động của mình, tức thương mại hóa mồ hôi nước mắt của họ.

Và mọi chuyện chỉ xảy ra đơn giản có như vậy thôi. Những kẻ mới là nông nô khi trước thì nay phải lang thang trên những con đường mòn thành nhóm lên đến hàng nghìn người, phải chào bán thứ sản phẩm duy nhất mà họ nắm trong tay, tức sức lao động. Không giống như cha mẹ ông bà họ vốn ai cũng đều lao động mà không phải bán sức lao động của mình, những kẻ cựu nông nô bây giờ phải trở thành những nhà buôn sức lao động – là con buôn cho chính mồ hôi công sức của mình. Thật bi kịch cho họ, thị trường lao động mà họ đang cố gắng tạo ra phải mất nhiều thập kỷ để có thể vận hành trơn tru. Ban đầu, hàng nghìn cựu nông nô phải bán sức lao động cho một số lượng người mua rất hạn chế. Mãi đến khi những công xưởng đầu tiên được mở ra, hàng thập kỉ sau đó, thì nhu cầu cho sức lao động của họ mới được tăng lên. Cho đến lúc đó, không có đủ người sử dụng lao động để có thể hấp thụ đủ hằng hà sa số những kẻ cựu nông nô mà nay đã thất nghiệp, thế là cái đói, bệnh tật và tình cảnh khốn cùng lan rộng ra cả nước, một cảnh trước nay chưa từng gặp trong thời bình.

Một điều giống hệt như trên cũng đã xảy ra với đất đai. Khi các địa chủ đã thay thế nông nô bằng cừu, họ liền nhận ra rằng thay vì tự mình giám sát việc sản xuất vải len thì có một cách khác để làm điều này: đó là cho người khác thuê lại mảnh đất của mình ở một mức giá sẽ được quyết định bằng giá trị của số vải len mà mảnh đất này sản xuất được ra trên thị trường quốc tế. Cỏ được trồng càng dày bao nhiêu thì số cừu có thể nuôi được cũng cao bấy nhiêu, sản lượng len cũng tăng và theo đó địa chủ có thể tăng thêm phần địa tô (rent) trên mỗi mẫu Anh. Nói tóm lại, khi mặt hàng len có được một mức giá quốc tế thì chỉ cần thêm đúng một bước để cho những mảnh đất xanh tươi ở Anh cũng theo đó mà có giá thị trường: bước này là đuổi hết nông dân ra ngoài và thay vào đó là những chú cừu dễ thương béo tốt.
Nhưng ai sẽ là người thuê đất và nuôi cừu? Một số người nông nô trước kia sẽ sẵn sàng làm điều này. Hoặc là phải làm việc hoặc là rơi vào cảnh nghèo đói bần cùng. Thế là những người này liền ký thỏa thuận thuê đất với vị lãnh chúa sở tại, họ nuôi trong lòng niềm hy vọng rằng khi bán len của mình ra thị trường thì sẽ thu lại một số tiền đủ để trả địa tô cũng như trả lương bèo bọt cho các nông nô khác làm việc cho mình, xong thì vẫn còn phải dôi ra một khoản để nuôi sống gia đình.

Con hãy để ý xem làm cách nào mà tầng lớp nông nô ai cũng đều trở thành một nhà buôn theo một nghĩa nào đó kể từ lúc mảnh đất nơi tổ tiên họ từng sống trở thành một thứ thương phẩm. Trước kia, trong chế độ phong kiến thì người nông nô phải lao động quần quật trên đất để tự nuôi lấy mình cũng như trả một phần sản lượng cho tầng lớp địa chủ. Hoàn toàn vắng bóng thị trường trong quá trình sản xuất cũng như phân phối. Tuy nhiên, sau khi tầng lớp nông nô bị đuổi đi thì phần lớn xã hội đều bị buộc phải tham gia vào một thị trường nào đó: Phần lớn những người nông nô đều phải tham gia thị trường lao động, nơi đó họ lại phải cố gắng bán từng giọt mồ hôi trên lưng và lo lắng về giá trị đổi chác của công sức của mình. Vài người trong số họ tiếp tục làm nông trên đất của lãnh chúa, tuy nhiên là trong những điều kiện hoàn toàn khác: với tư cách là kẻ đi thuê với giá thuê được xác định thông qua giá vải len, và với tư cách là một doanh chủ lúc nào cũng sợ hãi trước những biến động trong giá thị trường của thứ len này. Trong khi thế hệ cha mẹ của họ đã sống chung với niềm sợ hãi rằng chủ của mình sẽ không để dư ra đủ sản lượng nông nghiệp để những người này thôi chết đói khi mùa đông đến, kẻ nông nô bây giờ lại canh cánh lo âu về một điều khác: liệu sẽ có thể bán len trên thị trường và thu được đủ tiền để trả địa tô và mua đủ thức ăn để nuôi con hay không?

Nghịch lý Vĩ đại

Chiến thắng của giá trị đổi chác trước giá trị trải nghiệm đã làm thế giới thay đổi, tốt hơn cũng có mà xấu đi cũng có.

Một mặt, do sản phẩm, đất đai và lao động đã được thương mại hóa nên cảnh đàn áp, bất công và khốn cùng của đời nông nô thế là chấm dứt. Một khái niệm mới về sự tự do đã ra đời, kèm theo đó là khả năng dẹp bỏ chế độ nô lệ cũng như tiềm lực kỹ thuật để sản xuất ra sản phẩm cho tất cả mọi người.

Mặt khác, giá trị đổi chác đã đã sản sinh ra những cảnh túng quẫn, đói nghèo và nô lệ tiềm năng, mà vốn trước đây chưa từng có tiền lệ. Với việc xã hội thị trường ra đời và nông nô bị đuổi khỏi đất canh tác, những người tay không tấc đất trước đây vốn làm nông tay nay trở thành công nhân hoặc nông dân phải trả địa tô cho chủ đất. Trong cả hai trường hợp này bọn họ đều tự do theo cái nghĩa là không bị cưỡng bức phải lao động nữa, nhưng sự tự do này đi kèm theo những xiềng xích của riêng nó. Trong khi người làm công ăn lương được tự do làm những gì mình muốn, bọn họ hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường rủ lòng thương – chỉ có tự do nếu như họ tìm được người sử dụng sức lao động hoặc mua len của mình. Không tấc đất cắm dùi, họ có thể tự do muốn đi đâu thì đi, nhưng cũng sẽ phải chịu rủi ro lâm vào cảnh vô gia cư túng quẫn tột cùng.

Những người nào tìm được việc thì phải lao động 14 tiếng mỗi ngày trong những những công xưởng ngột ngạt tại Manchester, hầm mỏ than tại xứ Wales và Yorkshire, hay tại những xưởng đóng tàu bên bờ sông Clyde. Báo chí đương thời kể lại rằng có những đứa trẻ mới 10 tuổi ở nước Anh và Scotland phải sống trong cảnh bị xiềng vào máy hơi nước cả ngày lẫn đêm để bóc lột sức lao động của các em hết mức có thể. Phụ nữ có thai phải lao động quần quật trong những mỏ thiếc ở xứ Cornwall, một số người còn bị buộc phải sinh con ngay trong hầm mỏ mà không có sự hỗ trợ nào. Cũng trong khoảng thời gian này, tại các thuộc địa như Jamaica hay vùng mà sau này sẽ trở thành miền Nam của Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ, hoạt động sản xuất vẫn dựa trên sức lao động của những người nô lệ bị bắt cóc từ quê hương của họ ở châu Phi và rao bán vì vì giá trị đổi chác của mình.

Không gì giống với những thứ này đã từng xảy ra trong lịch sử loài người. Đúng là nhân loại đã bắt đầu trình toàn cầu hóa từ rất sớm — con cũng biết rằng tất cả loài người đều có tổ tiên ở châu Phi đấy thôi. Nhưng cái kiểu toàn cầu hóa này, mà vốn nó đã khai sinh ra cuộc Cách mạng Công nghiệp để rồi chính nó lại được củng cố bởi Cách mạng Công nghiệp, đã gây nên một nghịch lý vĩ đại: đó là sự chung sống của giàu có không tưởng và khổ đau không tưởng. Cũng vì lẽ này, những bất bình đẳng vốn đã được cách mạng nông nghiệp đem đến, mà chúng ta đã đã gặp trong chương trước, nay tăng lên một cách chóng mặt.

“Tiền bạc làm cho thế giới quay vòng!”

Con đã nghe câu nói trên cũng nhiều rồi. Mặc dù đây là một câu nói thể hiện sự hoài nghi tất cả (cynical) một cách vô cùng khó chịu cũng như lòng bi quan một cách khốn khổ đối với nhân loại, thật không may rằng: có thể đây lại là một câu nói đúng. Nhưng nếu tiền bạc có đúng là tất cả trong cuộc sống ngày nay đi nữa thì điều mà bố đang thực sự muốn nói với con con là: mọi việc trước kia không phải lúc nào cũng vậy.

Tiền bạc có thể đã luôn là một công cụ quan trọng giúp con người ta đạt các mục tiêu của mình, nhưng trước đây thì nó không phải là thứ mục đích tự thân theo kiểu ngày hôm nay. Trong xã hội phong kiến xưa kia một địa chủ sẽ không bao giờ nghĩ đến việc bán đi tòa lâu đài của mình dù là ở mức giá nào. Ông ta sẽ cho rằng làm vậy là vô đạo đức và lại còn nhục nhã nữa cơ. Nếu bị buộc phải bán do nhu cầu thì ông ta sẽ nghĩ về mình như là một kẻ thất bại ô danh và đáng khinh. Ngày nay thì gần như không có tòa lâu đài, bức tranh hay chiếc du thuyền nào mà không được bán nếu giá là thuận bán vừa mua. Trong sự khải hoàn của giá trị đổi chác trước giá trị trải nghiệm, khi mà xã hội có thị trường tiến hóa lên thành xã hội thị trường, thì có một điều khác xảy ra: tiền bạc được biến đổi từ phương tiện thành mục đích.

Bây giờ đã đến lúc để cho con một sự diễn giải đơn giản và cô đọng hơn về tại sao sao điều trên lại xảy ra: nhân loại đã phát minh ra động cơ vì lợi nhuận (profit motive). Nhưng động cơ vì lợi nhuận đã chẳng phải luôn là một phần của bản tính con người đó sao? Không, động cơ lợi nhuận thì không. Lòng tham thì lại có. Một ham muốn không thể kiểm soát được để tích cóp quyền lực, vàng, tác phẩm nghệ thuật, những người bạn hợp mốt, đất đai – chắc chắn là có. Nhưng lợi nhuận khá là khác biệt so với những thứ trên, và không, nó đã không là một động lực quan trọng của lịch sử cho đến thời gian tương đối gần đây.

Và bây giờ hãy để bố ướm cho con một ý tưởng còn kỳ quặc hơn: động cơ lợi nhuận càng nổi lên làm một cơ chế khuyến khích cho con người ta làm việc, thì càng kéo theo đó là một vai trò mới cho nợ vay (debt).

HẾT

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s